san-khau-kich-hong-van-10

Dòng chảy Kịch nói trong lịch sử Việt Nam

Kịch nói là thể loại nghệ thuật được du nhập và tiếp thu từ Phương Tây, trong bối cảnh phát triển của văn học cũng như sân khấu Việt Nam.

Kịch nói Việt Nam trước năm 1945

Trước thế kỷ XX, nghệ thuật sân khấu Việt Nam tồn tại dưới hình thức âm nhạc truyền thống là tuồng và chèo. Chính vào thời kỳ xã hội nửa thuộc địa nửa phong kiến tại Việt Nam, đã xuất hiện những thể loại sân khấu mới là cải lương và kịch nói.

Sự ra đời của sân khấu kịch nói xuất phát từ mong muốn giới thiệu sân khấu phương Tây với khán giả Việt Nam của các văn nghệ sĩ. Buổi diễn kịch đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện của một thể loại dân khấu mới ở Việt Nam, đã được ra mắt công chúng ngày 25 tháng 4 năm 1920 tại Nhà hát thành phố Hà Nội. Đó là vở kịch Người bệnh tưởng của Molie do một nhóm sân khấu nghiệp dư dàn dựng.

Song, đến ngày 22 tháng 10 năm 1921, khi vở Chén thuốc độc của tác giả Vũ Đình Long được trình diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội thì những vở thoại kịch do chính người Việt Nam soạn mới dần xuất hiện. Các vở kịch sau đó gây được tiếng vang lớn như Ai giết người của Tô Giang – phỏng theo truyện ngắn của Mân Châu in trên Nam Phong tạp chí số 28, rồi Già kén kẹn hom của Phạm Ngọc Khôi, rồi Mảnh gương đời, Bình địa ba đào của Trần Tuấn Khải v.v…

Tại Sài Gòn, Kịch nói thuở ban đầu chỉ thu hẹp trong bộ phận trí thức, học sinh, sinh viên. Điểm sáng là hai vở Toa toa, moa moa (1925) và Kẻ ăn mắm người khát nước (1926) của Trung Tín, phê phán xã hội tư sản, Tây hóa lai căng, đồi bại, xem tiền bạc cao hơn đạo đức con người. Tuy nhiên, đáng tiếc là hai kịch bản này đều không được công diễn trên sân khấu. Thời điểm này, công chúng phía Nam vẫn dành sự quan tâm cho cải lương.

Thời kỳ vàng son của kịch nói

Chuyển sang thời kỳ Âu hóa, xã hội Đông Dương lâm tình trạng kiệt quệ tài chính, khiến nhu cầu giải khuây trong nhân dân dâng cao. Bắt đầu từ nhóm Tự Lực văn đoàn manh nha trong việc thử nghiệm những hình thức văn nghệ mới. Nhiều vở thoại kịch không kể dài ngắn đều được đăng liên tục trên các báo Phong Hóa, Ngày Nay do các tác giả từ khắp nơi gởi về.

Năm 1935, thi sĩ Thế Lữ cùng các kịch gia như Lan Sơn, Lê Đại Thanh thành lập Ban kịch Thế Lữ tại Hải Phòng. Nhóm chủ yếu diễn các vở kịch Vi Huyền Đắc và Thế Lữ. Bấy giờ, đây là ban kịch được xem là chuyên nghiệp nhất.

Sau chiến dịch Đông Dương, nhu cầu thưởng thức văn nghệ của quần chúng dần chuyển sang xu hướng hướng nội. Điều kiện này tạo cơ hội cho kịch nói tiến thêm một bước. Đây là thời kỳ vàng son của kịch nói, thông qua sự ồ ạt ra đời của hàng chục ban kịch, nhỏ là 5 -10 người, lớn thì 20 – 30 người.

Kịch nói Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975

Trong thời gian Việt Minh nắm quyền tuyệt đối (1945), thoại kịch trở thành loại hình văn nghệ được yêu thích nhât khác nhờ đóng vai trò thông tin – văn hóa. Các chính đảng cho soạn diễn những vở kịch ngắn ca tụng công đức tiền nhân, kêu gọi đồng bào đứng lên kháng Pháp, thoại kịch cũng là hình thức phổ biến như Bình dân học vụ và tăng gia sản xuất.

Tiếp đến là sự ra đời của các vở kịch Nửa đêm truyền hịch (Trần Tử Anh), Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948 của Vũ Khắc Khoan) diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Kịch thơ cũng manh nha như các vở Tâm sự kẻ sang Tần (Vũ Hoàng Chương), Bến nước Ngũ Bồ (Hoàng Công Khanh)… Còn trên chiến khu, ban lãnh đạo Việt Minh cũng mở liên tiếp các kì đại hội văn nghệ để cổ động văn nghệ sĩ sáng tác kịch tuyên truyền chiến đấu và tăng gia sản xuất.

Trong khi cải lương và hát tuồng dùng sân khấu sống, kịch nói thường phản ảnh tình hình xã hội như các vở Gia đình ông Ký, Ngã rẽ cuối cùng, Chuyện xảy ra lúc 0 giờ qua các kênh truyền hình của Việt Nam Cộng Hòa.

Kịch nói Việt Nam giai đoạn 1975 – 2000

Sau Ngày Thống Nhất của đất nước, cơ quan quản lý tiến hành gom nghệ sĩ vào các đoàn văn công, chấp nhận mọi loại hình biểu diễn nhằm mục đích chính trị và kêu gọi nếp sống mới. Thời kì đầu, các đoàn văn công tư lập hầu như không tồn tại, ngoại trừ kịch đoàn Kim Cương được cấp phép hoạt động.

Nhưng sang giai đoạn sau, khi kinh tế ngày một khó khăn, chính phủ đành nới lỏng quản lý, dần cho phép những đội văn nghệ tư lập được biểu diễn công khai. Đây cũng là lúc nổi lên những tên tuổi như Thế Ngữ, Doãn Hoàng Giang, Lưu Quang Vũ đủ sức chiếm lĩnh sân khấu bằng những vở khai thác mạnh tâm lí xã hội Việt Nam, thay thế những vở Liên Xô, Đông Đức đã lạc hậu với thời cuộc.

Thời gian giữa những năm 80 đến nửa đầu những năm 90 của thế kỷ XX, sự khủng hoảng về khán giả của sân khấu diễn ra trên cả nước. Nhiều tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên dần dần bỏ nghề.

Kịch nói đương đại Việt Nam

Từ thập niên 2000 đến nay, các loại hình giải trí mới như mạng xã hội, phim ảnh, âm nhạc trên internet trở nên dễ tiếp cận với mọi lứa tuổi và đẳng cấp xã hội đã khiến ngành sân khấu nói chung và kịch nói nói riêng lâm tình trạng “lay lắt”, nguội lạnh, cố gắng duy trì do thiếu vắng khán giả.

Chỉ một số kịch đoàn, sân khấu như Nhà hát Tuổi Trẻ, Sân khấu IDECAF, Sân khấu kịch Hồng Vân, Sân khấu Nụ Cười Mới là tồn tại được nhờ kịp thời làm mới mình, thêm các yếu tố kinh dị, đồng tình luyến ái, du đãng lên sân khấu để phù hợp hơn với xu hướng xã hội. Tuy nhiên, tới đây lại nảy sinh ra vấn đề: sự chi phối của thị trường có thể khiến Kịch nói rời ra xa mục tiêu thẩm mỹ.

Vì vậy, cần tìm ra giải pháp cân bằng giữa giá trị nghệ thuật của tác phẩm, nâng cao thẩm mỹ cho khán giả, đồng thời, cũng phải đáp ứng được lợi nhuận kinh doanh nhằm duy trì hoạt động và phát triển của các sân khấu Kịch nói Việt Nam.

Scroll to Top